HƯỞNG ỨNG NGÀY QUỐC TẾ ĐA DẠNG SINH HỌC NĂM 2020

Tháng Năm 26, 2020 3:51 chiều

 

Đa dạng sinh học là cơ sở cung cấp thực phẩm, là nền tảng cho sức khỏe của loài người. Theo đó, chủ đề của ngày quốc tế đa dạng sinh học năm 2020 nhằm thúc đẩy việc tìm hiểu các kiến thức và tăng cường truyền thông về mối liên hệ giữa thực phẩm, dinh dưỡng và sức khỏe của con người với đa dạng sinh học góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, bao gồm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, phục hồi hệ sinh thái, làm trong lành nguồn nước và không có nạn đói. Đồng thời, tôn vinh sự đa dạng phong phú mà tự nhiên đã cung cấp cho chúng ta, làm nền tảng cho sự tồn tại của con người trên trái đất

        1

 

Mặc dù đa dạng sinh học trên toàn cầu đang bị suy thoái với tốc độ chưa từng có trong lịch sử loài người (IBPES, 2019). Tình trạng này đe doạ đến tiến trình phát triển bền vững của nhân loại. Chính vì thế, Liên Hợp Quốc kêu gọi áp dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên nhằm thúc đẩy bảo tồn đa dạng sinh học, sống hài hoà với thiên nhiên, đóng góp chung vào nỗ lực toàn cầu trong bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và phát triển bền vững.

1.Đa dạng sinh học là gì?

Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên.

* Đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ:

– Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm.

– Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể.

– Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống và các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau.

  1. Tầm quan trọng của đa dạng sinh học tại Việt Nam

2.1 Giá trị sinh thái và môi trường

Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có loài người. Các hệ sinh thái đảm bảo sự chu chuyển của các chu trình địa hóa, thủy hóa (thủy vực), ôxy và các nguyên tố cơ bản khác như cacbon, nitơ, photpho. Chúng duy trì sự ổn định và màu mỡ của đất, nước ở hầu hết các vùng trên trái đất, làm giảm nhẹ sự ô nhiễm, thiên tai. Gần đây, khái niệm các dịch vụ của hệ sinh thái được đưa ra trên cơ sở các thuộc tính, chức năng của chúng được con người sử dụng.

2

Bảo vệ tài nguyên đất và nước: các quần xã sinh vật đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, đặc biệt thảm thực vật có thể làm giảm nhẹ mức độ hạn hán, lũ lụt cũng như duy trì chất lượng nước. Việc hủy hoại thảm rừng do khai thác gỗ, do khai hoang làm nông nghiệp, ngư nghiệp cũng như các hoạt động khác của con người trong quá trình phát triển kinh tế làm cho tốc độ xói mòn đất, sạt lở đất, hoang mạc hóa đất đai tăng lên rất nhanh. Đất bị suy thoái khiến thảm thực vật khó có thể phục hồi càng gia tăng các thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán… hoặc gây ô nhiễm môi trường đất và nước.

3

Điều hòa khí hậu: quần xã thực vật có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu địa phương, khí hậu vùng và cả khí hậu toàn cầu: tạo bóng mát, khuyếch tán hơi nước, giảm nhiệt độ không khí khi thời tiết nóng nực, hạn chế sự mất nhiệt khi khí hậu lạnh giá, điều hòa nguồn khí ôxy và cacbonic cho môi trường trên cạn cũng như dưới nước thông qua khả năng quang hợp… Phân hủy các chất thải.

Các quần xã sinh vật, đặc biệt các loài nấm và vi sinh vật có khả năng hấp phụ, hấp thụ và phân hủy các chất ô nhiễm như kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải nguy hại khác.

4

2.2 Giá trị kinh tế.

Theo một số tài liệu, ĐDSH trên toàn cầu có thể cung cấp cho con người một giá trị tương đương 33.000 tỷ USD/năm. Trong Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (1995) cũng ước tính, hàng năm việc khai thác tài nguyên nông, lâm nghiệp và thủy sản của Việt Nam có giá trị tương đương 2 tỷ USD. Lấy số liệu thực của năm 2004, riêng hàng xuất khẩu của ngành thủy sản Việt Nam đã có giá trị 2 tỷ USD. Ngành nông – lâm nghiệp hiện đang quản lý nguồn tài nguyên rừng có giá trị vô cùng to lớn. Với giá khoảng 250 USD/m3 gỗ, thì hàng năm chỉ riêng mặt hàng gỗ làm nguyên liệu giấy, ĐDSH đă cho giá trị khoảng 1,5 – 3,5 tỷ USD. Đó là chưa kể hàng năm rừng đă cung cấp các mặt hàng lâm sản ngoài gỗ đã có giá trị khoảng 1,5 tỷ USD cho xuất khẩu và cũng khoảng đó cho tiêu dùng trong nước.

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2003 ngành nông nghiệp đóng góp một tỷ lệ đáng kể trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): gần 21%, ngành lâm nghiệp chiếm tỷ lệ gần 1,1% và ngành thủy sản chiếm tỷ lệ hơn 4% GDP. Theo số liệu thống kê năm 1995, nhu cầu cây thuốc cho công nghiệp dược, mỹ phẩm hương liệu khoảng 20.000 tấn/năm. Hàng trăm doanh nghiệp xuất khẩu thuốc khoảng 10.000 tấn/năm trị giá khoảng 15-20 triệu USD.

Giá trị kinh tế của ĐDSH có thể nêu khái quát về các mặt sau đây:

– Giá trị được tính ra tiền do việc khai thác, sử dụng mua bán hợp lý các tài nguyênĐDSH.

– ĐDSH đảm bảo cơ sở cho an ninh lương thực và phát triển bền vững của đất nước, đảm bảo các nhu cầu về ăn, mặc của nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.

– ĐDSH cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản: mía đường, bông vải, cây lấy dầu, cây lấy sợi, thuốc lá, cói, hạt điều…

– ĐDSH góp phần nâng cao độ phì nhiêu của đất, qua đó làm tăng giá trị nông sản.

2.3 Giá trị xã hội và nhân văn.

Trong các nền văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới, một số loài động vật hoang dã được coi là biểu tượng trong tín ngưỡng, thần thoại hoặc các tác phẩm hội họa, điêu khắc. Sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên sinh vật đã hình thành các lễ hội của một số bộ tộc ít người như lễ hội săn bắn theo mùa, hoặc hình thành sự quản lý tài nguyên theo tính chất cộng đồng như vai trò của già làng, trưởng bản trong việc phân định phạm vi, mức độ khai thác, sử dụng tài nguyên đất và rừng.
Cuộc sống văn hóa của con người Việt Nam rất gần gũi thiên nhiên, các loài động, thực vật nuôi trồng hay hoang dã và các sản phẩm của chúng đã quen thuộc với mọi người dân, đặc biệt người dân sống ở vùng nông thôn và miền núi, như lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng), lễ hội đua thuyền… Nhiều loài cây, con vật đă trở thành thiêng liêng hoặc vật thờ cúng đối với các cộng đồng người Việt như: gốc đa thiêng, đền thờ cá Ông ở các tỉnh miền Nam Trung bộ. Các khu rừng thiêng, rừng ma là những nét văn hóa độc đáo của nhiều dân tộc miền núi. Nghề dệt thổ cẩm, làm hương, làm hàng mỹ nghệ từ gỗ, tre nứa hay song mây là những sự gắn bó của đời sống văn hóa con người Việt Nam với ĐDSH.

Rất nhiều loài động vật hoang dã được thuần dưỡng với mục đích làm bầu bạn với con người hoặc thuần hóa để chăn nuôi làm thực phẩm sử dụng hàng ngày.
Rất nhiều thú vui của con người được tạo nên thông qua việc tổ chức tham quan, theo dõi tập tính của nhiều loài động vật hoang dã. Gần đây, ngành du lịch sinh thái đã hình thành và đang phát triển rộng rãi trên cơ sở sự ham hiểu biết thiên nhiên của con người đồng thời cũng là điều kiện để nâng cao nhận thức tầm quan trọng của công tác bảo tồn thiên nhiên cũng như làm cho con người gần gũi hơn, thân thiện hơn với thiên nhiên hoang dã.

Giá trị xã hội – nhân văn của ĐDSH thể hiện tập trung ở các mặt sau đây:

– Tạo nhận thức, đạo đức và văn hóa hưởng thụ thẩm mỹ công bằng của người dân. Qua các biểu hiện phong phú nhiều dáng vẻ, nhiều hình thù, nhiều màu sắc, nhiều kết cấu, nhiều hương vị của thế giới sinh vật con người trở nên hiền hòa, yêu cái đẹp.

– ĐDSH góp phần đắc lực trong việc giáo dục con người, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước.

– ĐDSH là yếu tố chống căng thẳng, tạo sự thoải mái cho con người. Điều này đặc biệt có giá trị trong thời đại công nghiệp, trong cuộc sống hiện tại căng thẳng và đầy sôi động.

– ĐDSH góp phần tạo ổn định xã hội thông qua việc bảo đảm an toàn lương thực, thực phẩm, thỏa mãn các nhu cầu của người dân về đầy đủ các chất dinh dưỡng, về ăn mặc, tham quan du lịch và thẩm mỹ.

  1. Đa dạng sinh học trên thế giới và Việt Nam

Trên phạm vi toàn thế giới còn cần rất nhiều nổ lực để có thể hoàn thiện được danh mục đầy đủ các loài. Mỗi năm các nhà phân loại trên thế giới mô tả được khoảng 11.000 loài (chiếm từ 10 đến 30% các loài có trên thế giới), và như vậy, để có thể mô tả hết các loài trên thế giới (ước tính 10 đến 30 triệu loài) dự kiến phải tốn từ 750 năm đến 2.570 năm, trong khi đó có nhiều loài đa bị tuyệt chủng trước khi chúng được mô tả và đặt tên.

 

5

   Xét về đa dạng loài một cách cụ thể, ta có thể xem xét đa dạng loài theo các nhóm sinh vật. Như vậy, ta sẽ có: đa dạng vi sinh vật, tảo, thực vật không mạch, thực vật có mạch, côn trùng, động vật không xương sống, động vật có xương sống

Môi trường giàu có nhất về số lượng loài có lẽ ở các rừng nhiệt đới, rạn san hô, các hồ lớn ở vùng nhiệt đới và ở các biển sâu. Trong các rạn san hô, và các biển sâu, sự đa dạng sinh học thuộc nhiều ngành và lớp khác nhau. Sự đa dạng trong các biển sâu nhờ vào diện tích lớn, tính ổn định của môi trường cũng như vào sự biệt hoá của các loại nền đáy khác nhau.

 

Đa dạng loài lớn nhất là ở vùng rừng nhiệt đới. Mặc dù rừng nhiệt đới chỉ chiếm 7% diện tích trái đất, chúng chứa hơn 1/2 loài trên thế giới. Khoảng 40% loài thực vật có hoa trên thế giới (100.000 loài) ở vùng nhiệt đới, trong khi 30% loài chim trên thế giới phụ thuộc vào những khu rừng nhiệt đới.

Bảng: Thành phần các loài

Loài Số lượng
Côn trùng 751000
Sinh vật đơn bào 30000
Thực vật 248500
Tảo 26900
Nấm 69000
Vi khuẩn 4800
Virus

1000

Động vật khác 281000

Việt Nam được xếp vào nhóm các nước có đa dạng sinh học cao trên thế giới. Đến nay đã ghi nhận có 15.986 loài thực vật ở Việt Nam, trong đó có 4528 loài thực vật bậc thấp và 11.458 loài thực vật bậc cao, 10% trong số đó là các loài đặc hữu. Về động vật, đã thống kê được 307 loài giun tròn, 161 loài giun sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 145 loài ve giáp, 113 loài bọ nhảy, 7750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310 loài và phân loài thú.

Đa dạng loài ở Việt Nam có các đặc trưng sau:

– Số lượng loài sinh vật nhiều, sinh khối lớn. Bình quân trên 1km2 lãnh thổ Việt Nam có 4,5 loài thực vật và gần 7 loài động vật, một mật độ đậm đặc.

– Cấu trúc loài rất đa dạng. Nhiều loài có hàng chục dạng sống khác nhau. Cấu tạo quần thể thường rất phức tạp.

– Khả năng thích nghi của loài cao. Sinh vật Việt Nam nói chung có khả năng chống chịu cao với mọi biến đổi của ngoại cảnh.

Bảng: Sự phong phú về thành phần loài sinh vật ở Việt Nam

Nhóm sinh vật Số loài đã xác định được Số loài có trên thế giới Tỷ lệ (%) giữa VN/TG
1.Vi tảo
   – Nước ngọt 1438 15000 9.60%
   – Biển 537 19000 2.80%
2.Rong-cỏ
   – Nước ngọt 20 2000 1%
   – Biển 667 10000 6.70%
3.Thực vật bậc cao khoảng 11400 220000 5%
   – Rêu 1030 22000 4.60%
   – Nấm lớn 826 50000 1.60%
4.Động vật không xương sống ở nước
   – Nước ngọt 794 80000 1%
   – Biển Khoảng 7000 220000 3.20%
5.Động vật không xương sống ở đất Khoảng 1000 30000 3.30%
6.Giun sán ký sinh ở gia súc 161 1600 10%
7.Côn  trùng 7750 250000 3.10%
8.Cá
   – Nước ngọt Trên 700
   – Biển 2458
9.Bò sát 296 6300 4.70%
   Bò sát biển 21
10.Lưỡng cư 162 4184 3.80%
11.Chim 840 9040 9.30%
12.Thú 310 4000 7.50%
   Thú biển 25

 (Nguồn: Cục bảo vệ môi trường, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật,

 Cục bảo vệ và phát triển Nguồn lợi Thuỷ sản, Phạm Bình Quyền, 2005)

  1. Sự suy giảm của đa dạng sinh học ở Việt Nam

Thực trạng của đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay:

– Các hệ sinh thái tự nhiến bị suy thoái.

– Các loài tự nhiên bị suy giảm.

– Nguồn gen cây trồng vật nuôi bị suy giảm.

Trong tiến trình lịch sử của sự phân hoá và tiến hoá, số lượng các loài còn nhiều gấp bội, song chúng đã bị tiêu diệt phần lớn do những biến động lớn lao của vỏ trái đất và của khí hậu toàn cầu. Con người đóng góp vào nạn diệt chủng của các loài chỉ sau khi họ ra đời và phát triển nền văn minh của mình và cũng là tác nhân chủ yếu làm mất đa dạng sinh học.

6

        Sự mất đa dạng sinh vật ở Việt Nam cũng giống như trên thế giới ngày một gia tăng, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật ngày một tăng do ảnh hưởng các hoạt động con người vào tự nhiên. Trên thực tế, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật của nước ta nhanh hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực.

–          Suy giảm hệ sinh thái:

–           Hệ sinh thái rừng bị tổn thất nặng nề:

–          Diện tích rừng bị thu hẹp. Rừng bị khai thác: 120.000-250.000 ha/năm.

–          Độ che phủ rừng bị giảm sút tới mức báo động: độ che phủ của rừng năm 1943 là 43% thì nay chỉ còn 28.8% (Phạm Bình Quyền-2005).

Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã xác định chỉ tiêu thảm rừng che phủ đất đai lãnh thổ các quốc gia thuộc miền Nhiệt đới ở mức >33%, dưới đó là báo động môi trường.

  • Tình trạng mất rừng hầu hết xảy ra ở các rừng phòng hộ xung yếu. VD: Độ che phủ của rừng tự nhiên ở một số lưu vực các sông như sau:

– Lưu vực sông Đà: <11%.

– Lưu vực sông Hồng: 23%.

– Lưu vực sông Đồng Nai: 25%.

– Lưu vực sông Ba (Gia Lai): <23%.

  • Chất lượng rừng bị giảm: bị thu hẹp và chia cắt. (rừng nguyên sinh, rừng giàu chỉ còn <13% tổng diện tích rừng). Độ che phủ và chất lượng rừng bị giảm (rừng tái sinh chiếm 55% tổng diện tích rừng) (nguồn: Bộ TNMT, 2007).

Suy thoái hệ sinh thái đất ngập nước: đầm phá Tam Giang, rừng ngập mặn Cần Giờ, rừng U Minh Thượng, …

  • Suy thoái về số lượng: diện tích bị giảm…
  • Suy thoái về chất lượng: 70% diện tích đất ngập nước bị ô nhiểm (nguồn: Bộ TNMT, 2009).
  • Rừng ngập nước và tràng cỏ ngập nước ở đồng bằng Bắc Bộ (>1,7 triệu ha) và đồng bằng sông Cửu Long (khoảng 3,9 triệu ha) đã chuyển đổi thành đất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản (Bộ TNMT, 2007).
  • Diện tích đất ngập nước hiện nay: chỉ còn 10 triệu ha (Bộ TN&MT, 2009).
  • Rừng ngập mặn: diện tích rừng ngập mặn đã giảm 183.724 trong 20 năm qua (Bộ TN&MT, 2008).
  • Các hệ sinh thái đầm phá và trảng cỏ ở miền trung cũng suy thoái nặng nề do khai thác thuỷ hải sản không bền vững và mở rộng nuôi trồng thuỷ sản.
  • Các hệ sinh thái đất ngập nước thuộc các sông hề cũng bị khai thác cạn kiệt và do xây dựng cơ sở hạ tầng
  • Mở rộng đất ngập nước để nuôi trồng thuỷ sản làm suy gimr tài nguyên sinh học tại chỗ: mất nơi sống, nơi sinh sản, vườn ươm của nhiều loài động vật dưới nước và trên cạn. (nghiên cứu đầm tôm bỏ hoang ở Nam triệu – Hải Phòng cho thấy sinh khối động vật đáy giảm tới 9 lần so với vùng lân cận rừng ngập mặn).
  • Làm mất nguồn thức ăn phong phú của nhiều sinh vật vùng triều, hậu quả là sản lượng cá, tôm, cua đánh bắt ở ngoài biển cũng giảm…

Hầu hết hệ sinh thái biển khơi ở Việt Nam đều đang bị suy thoái do: khai thác quá mức ” huỷ diệt; ô nhiễm… dẫn đến hậu quả là : thay đổi cấu thúc quần xã thuỷ sinh. Giảm mật độ các loài thuỷ sản. 80 loài hải sản bị đe doạ, 70 loài được đưa vào sách đỏ, 20 loài chim bị đe doạ toàn cầu.

Sự suy giảm các loài tự nhiên: 855 loài bị đe doạ tuyệt chủng (so với hơn 700 loài trong những năm 1992 – 1996) và ít nhất 10 loài khác đã không còn tồn tại tại ở Việt Nam. Trong đó: Động Vật là 407 loài  (90 loài thú, 74 loài chim, 40 loài bò sát, 13 loài lưỡng cư, 36 loài cá  nước ngọt, 53 loài cá biển, 101 loài động vật không xương sống) thực vật là 448 loài.

Suy giảm nguồn gen giống vật nuôi và cây trồng: các giống cây trồng và vật nuôi đang bị mai một (theo tính toán, 80 % giống cây trồng bản địa đã mất, giống vật nuôi suy giảm gần 10 % một năm) ” sự mất mát nguồn gen là thiệt hại cho cả nhân loại.

Bảng: Sự suy giảm diện tích và mất mát giống cây trồng bản địa từ 1970 đến 1999

Giống cây Giảm diện tíchgieo trồng(%) Tỷ lệ mất giốngđịa phương (%)
Lúa 50 80
Ngô, đậu 75 50
Cây có củ 75 20
Chè và đay 20 90
Cây ăn quả 50 70
  1. Nguyên nhân làm suy giảm đa dạng sinh học

5.1 Khai thác và sử dụng không bền vững tài nguyên sinh học:

Nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống, con người đã thường xuyên săn bắn, hái lượm thực phẩm và khai thác các nguồn tài nguyên khác

Chiến tranh: chiến tranh không những là nguyên nhân trực tiếp mà còn là nguyên nhân sâu xa gây suy thoái ĐDSH. Trong giai đoạn 1945 đến 1990 nước ta đã trải qua hai cuộc chiến tranh và 2 cuộc xung đột biên giới hết sức khốc liệt. Chiến tranh đã gây biến động lớn về phân bố dân cư giữa các vùng, đồng thời một diện tích lớn đất rừng bị khai phá để trồng cây lương thực bảo đảm hậu cần tại chỗ cho quân và dân. Không những thế các loài động vật hoang dã còn bị đe dọa bởi các loại vũ khí do chiến tranh để lại sau đó.

5.2 Khai thác quá mức:

– Khai thác gỗ:

Các phương thức khai thác gỗ (hợp pháp hay bất hợp pháp) không bền vững từ trước đến nay đều được coi là mối đe dọa lớn đối với ĐDSH. Nó không những làm nghèo kiệt tài nguyên gỗ tự nhiên mà còn làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng rừng và gây ảnh hưởng lớn đối với vùng cư trú của các loài động vật hoang dã.

– Khai thác củi làm nhiên liệu:

Khai thác củi làm nhiên liệu có quy mô lớn và kho kiểm soát, đây cùng là mối đe dọa rất lớn đối với ĐDSH.

– Khai thác, buôn bán lâm sản ngoại gỗ (kể cả động vật).

78

– Đánh bắt cá: Tại nhiều nơi vẫn còn tình trạng đánh bắt cá mang tính huỷ diệt như dùng mìn, chất nổ, điện, thậm chí cả chất đôc (Xyanua). Đánh bắt quá mức có thể thấy rõ hậu quả qua sản lượng đánh bắt một số loài cá suy giảm mặc dù cường độ đánh bắt tăng.

9

– Khai thác trái phép tài nguyên các rạn san hô.

Bảo tồn rạn san hô ít được chú ý trực tiếp. Một số rạn san hô bị phá huỷ, chủ yếu là do sử dụng các phương pháp đánh bắt cá mang tính huỷ hiệt như đã nói ở trên. Tất cả những phương pháp đánh bắt cá không chọn lọc đõ sẽ giết chết hoặc làm tất cả các loài hoảng sợ.

10

 5.3 Mở rộng đất làm nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản:

Mở rộng đất canh tác nông, nghư nghiệp lấn vào đất rừng là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm suy thoái ĐDSH. Nhiều loài sinh vật mất nơi cư trú, mất môi trường sống, mất nguồn thức ăn, mất nơi sinh đẻ nên một khối lượng lớn cá thể bị chết, các chuỗi dinh dưỡng bị xáo trộn, cân bằng sinh thái bị tổn thương.

5.4 Cháy rừng:

Hiện nay, Việt Nam có trên 6 triệu ha rừng dễ cháy (Phạm Bình Quyền và các cộng sự, 1997), bao gồm rừng thông, rừng tràm, rừng tre nứa, rừng bạch đàn, rừng khộp… Cùng với diện tích rừng dễ cháy tăng thêm hàng năm thì tình hình diễn biến thời tiết ngày càng phức tạp và khó lường ở Việt Nam đang làm nguy cơ tiềm ẩn về cháy rừng ngày càng nghiêm trọng hơn.

11

5.5 Di nhập và xâm lấn của các loài sinh vật lạ:

Trong thời gian qua việc trao đổi, di nhập một số giống cây trồng, vật nuôi đã mang lại hiệu quả kinh tế. Trong cơ cấu cây trồng ở nhiều nơi số giống mới đã chiếm tới 70- 80% và cho năng suất cao. Tuy nhiên việc di nhập nhiều giống mới một cách tràn lan, thiếu kiểm soát là nguy cơ tiềm tàng làm các giống bản địa bị mai một. Các giống mới có thể có những điểm bất lợi và thường không bền vững trước tác động của ngoại cảnh và sâu bệnh. Tác hại ngay lập tức và có thể thấy là một số loài di nhập vào Việt Nam đã phát triển thμnh dịch và gây hại nghiêm trọng. Điều này còn liên quan đến sự thiếu hiểu biết và sơ hở trong quản lý.

12

5.6 Mất và phá huỷ nơi cư trú:

Mất và phá hủy nơi cư trú bởi các hoạt động của con người: Đó chính là tác động của việc thay đổi mục đích sử dụng tài nguyên sinh học như: sự phát triển nông nghiệp, đô thị, sự du canh du cư, đốt nương làm rẫy dẫn đến cháy rừng, khai thác rừng bừa bãi, sản xuất công nghiệp thải lượng cacbon dioxit và các khí khác vào khí quyển, đốt các nhiên liệu có nguồn gốc cacbon như than, dầu và gas. …

Mất và phá hủy nơi cư trú bởi các vận động của tự nhiên: Việc phát sinh mới hay hoạt động trở lại của các núi lửa, sóng thần, sạt lở đất, động đất, sa mạc hóa, cháy rừng…

5.7 Ô nhiễm môi trường sống: Có thể liệt kê một số nguyên nhân sau:

Ô nhiễm do thuốc trừ sâu: Thuốc trừ sâu là nhân tố gây ô nhiễm nặng nề và được khuyến cáo từ năm 1962 (Rachel Carson, 1962).

Ô nhiễm nước: Ô nhiễm nước cũng là nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH thuỷ sinh như các loài cá, ốc, trai, hến… Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là do các chất thải công nghiệp, chất thải dân dụng, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, rò rỉ xăng dầu từ các tàu vận tải, các kim loại nặng (thuỷ ngân, chì, thiếc…). Các chất thải này theo dòng chảy và lan tràn trong một vùng rộng lớn. Kết quả là một loạt loài ở các bậc dinh dưỡng tiếp theo trong chuỗi thức ăn cũng bị nhiễm độc theo.

Ô nhiễm không khí và mưa axít: Các hoạt động công nghiệp xả thải vào khí quyển, đốt rừng làm nương rẫy… làm thay đổi và làm ô nhiễm bầu khí quyển của trái đất. Các nền công nghiệp như luyện thép, các nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu là than dầu đã thải ra một lượng lớn nitrat, sulphat vào không khí, các khí này khi gặp hơi nước trong khí quyển sẽ tạo ra axit nitric và sunphuric. Các axit này liên kết với những đám mây và khí tạo thành mưa đã làm giảm độ pH của nước mưa xuống thấp và tăng khả năng hấp thụ các kim loại nặng độc hại.

Sư sản sinh ôzôn, các kim loại độc hại và lắng đọng khí nitơ: Nồng độ ôzôn cao ở tầng khí quyển gần mặt đất sẽ giết chết các mô thực vật, làm cho cây dễ bị tổn thương, làm hại đến các quần xã sinh học, giảm năng suất nông nghiệp.

Sự biến đổi khí hậu: Sự biến đổi khí hậu và nồng độ khí cacbonic trong khí quyển gia tăng sẽ có khả năng làm thay đổi triệt để cấu trúc của các quần xã sinh học và sẽ chỉ còn một số loài có khả năng phát triển thích ứng với điều kiện sống mới (Bazzaz và Fajer, 1992).

13

5.8 Sự chuyên hóa trong sản xuất công-nông nghiệp:

Do sức ép của sự gia tăng dân số trên thế giới, dẫn đến nhu cầu về lương thực, thực phẩm và các loại nguyên, nhiên, vật liệu sẵn có trong tự nhiên, đồng thời cũng thúc đẩy loài người lựa chọn hoặc lai tạo ra các giống động thực vật có năng suất, chất lượng cao; và sử dụng đại trà các giống này cho sản xuất trên phạm vi toàn cầu trong những khu vực có điều kiện khí hậu tương tự nhau.  Do đó, các giống địa phương sẽ bị mai một và cuối cùng là tuyệt chủng..

14

5.9 Sự lây lan của các dịch bệnh:

Sự lây nhiễm các sinh vật gây bệnh là điều thường xảy ra đối với động vật nuôi hay động vật hoang dã. Các tác nhân gây nhiễm có thể là các vật ký sinh nhu virus, vi khuẩn, nấm, các động vật đơn bào hay các ký sinh trùng kích cỡ lớn hơn như giun, sán. Các loại dịch bệnh có thể là nguy cơ đe dọa đối với một số loài quý hiếm.

5.10 Sự bất lực của chính quyền và những chiến lược phát triển không hợp lý:

 Nguyên nhân này có vai trò tương đối lớn, nhất là đối với các loài có nguy cơ tuyệt chủng và ở các nước nghèo. Hệ thống các văn bản pháp luật chưa hoàn thiện và không được những người có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc. Do cuộc sống khó khăn nên những người dân bản địa đã tiến hành khai thác bất hợp pháp các loài động thực vật cung cấp cho thị trường, song các cấp chính quyền dường như không làm được nhiều để hạn chế tình trạng trên, thậm chí do nguồn lợi kinh tế rất lớn nên một số nhà chức trách còn tiếp tay cho các hoạt động phi pháp. Bên cạnh đó chính sách di dân đã làm cho rất nhiều diện tích rừng bị mất đi nhanh chóng. Các chính sách kinh tế sai lầm đã làm giá cả gia tăng nhanh và đẩy một bộ phận người dân thuộc vùng sâu, vùng xa, những vùng có mức độ ĐDSH cao nhất, ngày càng trở nên khốn khó, để tự nuôi sống mình và gia đình họ đã khai thác triệt để nguồn lợi sinh học tại địa phương.

  1. Giải pháp bảo vệ đa dạng sinh học.

6.1 Bảo tồn nguyên vị:

Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên. Thông thường bảo tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn (KBT) và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp. Theo Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế Giới – IUCN thì có 6 loại KBT:

– Loại I: Khu bảo tồn nghiêm ngặt (hay KBT hoang dã).

– Loại II: Vườn Quốc gia chủ yếu để bảo tồn các HST và sử dụng vào mục đích du lịch, giải trí, giáo dục.

– Loại III: Công trình thiên nhiên chủ yếu để bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đặc biệt.

– Loại IV: Khu bảo tồn sinh cảnh hay các loài, chủ yếu là nơi bảo tồn một số sinh cảnh hay một số loài đặc biệt cần bảo vệ.

– Loại V: Khu bảo tồn cảnh quan đất liền hay cảnh quan biển chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đẹp, sử dụng cho giải trí, du lịch.

– Loại VI: Khu bảo tồn quản lý tài nguyên thiên nhiên chủ yếu quản lý với mục đích sử dụng một cách bền vững các HST và tài nguyên thiên nhiên.

Bảng: Phân loại hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam

T.T Loại Số lượng Diện tích (ha)
I Vườn Quốc gia 30 1.041.956
II Khu Bảo tồn thiên nhiên 60 1.184.372
IIa Khu dự trữ thiên nhiên 48 1.100.892
IIb Khu bảo tồn loài/sinh cảnh 12 83.480
III Khu Bảo vệ cảnh quan 38 173.764
Tổng cộng (Khu bảo tồn) 128 2.400.092

6.2 Bảo tồn chuyển vị:

Bảo tồn chuyển vị là biện pháp chuyển dời và bảo tồn các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ. Bảo tồn chuyển vị bao gồm các vườn thực vật (VTV), vườn động vật, các bể nuôi thuỷ hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy…Do các sinh vật hay các phần của cơ thể sinh vật đựoc lưu giữ trong môi trường nhân tạo, nên chúng bị tách khỏi quá trình tiến hoá tự nhiên. Vì thế mà mối liên hệ gắn bó giữa bảo tồn chuyển vị với bảo tồn nguyên vị rất bổ ích cho công tác bảo tồn ĐDSH.

6.3 Bảo tồn trang trại:

 Hình thức này có ý nghĩa quan trọng đặc biệt cho sự bảo tồn một số giống cây trồng địa phương, có đặc tính nông sinh học quý như vải thiều Thanh Hà, nhãn lồng Hưng Yên, bưởi Đoan Hùng, các loại cây có giá trị: hồi, quế…

Ngoài ra còn có một số hình thức bảo tồn khác như: Bảo tồn bên ngoài các khu bảo tồn; Hồi phục và khôi phục các loài, chủng quần và HST

  1. Một số biện pháp bảo tồn, khai thác, hợp lý ĐDSH.

Bảo tồn ĐDSH có ý nghĩa quan trọng nhằm giữ cho sinh quyển ở trạng thái cân bằng. Để ngăn chặn các yếu tố có hại và phát huy các yếu tố có lợi cho hoạt động của tự nhiên cũng như của con người, cần phải thực hiện những biện pháp nhằm phòng chống suy thoái, bảo vệ ĐDSH như:

– Tuyên truyền giáo dục rộng rãi trong nhân dân cùng tham gia bảo vệ rừng.

– Ngăn chặn phá rừng để BVMT của các loài động, thực vật.

– Hạn chế săn bắn, khai thác các loài động, thực vật, đặc biệt là các loài quý hiếm.

– Thực hiện việc ký cam kết, xây dựng hương ước quản lý bảo vệ rừng trong cộng đồng dân cư kết hợp với việc giao, khoán rừng đến hộ gia đình và cá nhân,

– Xây dựng các vườn thực vật, vườn quốc gia, khu bảo tồn… để bảo vệ các nguồn gen động vật, thực vật quý hiếm.

– Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH,  phát huy nguồn kiến thức, kỹ năng của người dân bản địa tại các địa phương.

– Điều tra, nghiên cứu xác định các tiêu chí phân vùng sinh thái trên phạm vi cả nước.

– Xác định các vùng có HST tự nhiên quan trọng, nhạy cảm, dễ bị tổn thương, bị suy thoái để có kế hoạch bảo vệ phục hồi.

– Tăng cường nghiên cứu, sử dụng các phương pháp, công cụ và áp dụng các mô hình mới, đặc biệt là phương pháp tiếp cận dựa vào HST thích ứng với biến đổi khí hậu;

– Cấm buôn bán và xuất khẩu các loài động vật, thực vật quý hiếm; Kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu các sinh vật ngoại lai và thực thi hiệu quả Luật ĐDSH.

Việc bảo tồn ĐDSH ít được quan tâm vì sự mất mát về đa dạng sinh học, đặc biệt là ở biển ít được nhìn thấy; sự mất mát này không tác động ngay lập tức và trông thấy được trong cuộc sống hàng ngày; đa số quần chúng ít cảm nhận được lợi ích trong việc bảo tồn đa dạng sinh học. Nhiều lý do được đưa ra để mọi người thấy được việc bảo tồn đa dạng sinh học là cần thiết ví dụ như: phục vụ cho mục đích sử dụng trong hiện tại và tương lai các nhân tố của đa dạng sinh học như các nguồn tài nguyên sinh học; phục vụ cho việc duy trì sinh quyển  trong trạng thái có thể hỗ trợ cho cuộc sống của con người; phục vụ bảo tồn bản thân đa dạng sinh học mà không vì một mục đích nào khác, đặc biệt tất cả các loài đang sống hiện nay.

15

Trong thời đại ngày nay, bảo vệ đa dạng sinh học đang được quan tâm không chỉ ở phạm vi riêng lẽ của từng quốc gia mà là mối quan tâm chung của toàn nhân loại. Bởi vì bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia cũng như sự hạn chế các tác động của sự thay đổi khí hậu.

Mục tiêu của bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững đều hướng tới sự thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu cuộc sống của con người về tất cả mọi mặt. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi có sự liên kết, hỗ trợ giúp đỡ  giữa các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các nhà khoa học, các doanh nghiệ, cộng đồng,…nhằm làm cho quá trình phát triển không ảnh hưởng tới các hoạt động bảo tồn và hoạt động bảo tồn sẽ hỗ trợ ngày càng tốt hơn cho quá trình phát triển.

Giáo viên bộ môn Sinh học

Trần Thị Nhân